Thursday, October 1, 2020

HỒI KÝ TÙ NGUYỄN CHÍ LONG

 

HỒI KÝ TÙ CẢI TẠO TỪ NĂM 1975 ĐẾN 1981

Nguyễn chí Long

1/- Ngày 25/6/1975 tôi cùng các Sĩ Quan chiến hữu bị kêu trình diện cải tạo trong vòng 10 ngày, trong khi cắp Hạ sĩ quan chỉ đi 3 ngày thôi . Tôi đến Trường Trưng Vương trình diện và được đưa đi Trảng Lớn, Tây Ninh thuộc  BCH Sư Đoàn 18.

Mỗi ngày đều phải khai lý lịch, rồi ngồi nghe bọn bộ đội khoe thành tích chiến thắng Mỹ Ngụy, học tập chính sách nhà nước trước sau như một/ ngày nào cũng vậy. Sau đó đi lao động cuốc đất trồng khoai mì, đào giếng lấy đất đổ lên đường nhựa để trồng rau muống  cho đỡ tốn nước, đào hầm cầu để lấy phân trồng rau, lấy ống đạn đựng nước tiểu tưới rau, sáng sớm có anh đi ăn cắp nước tiểu để đi tưới, chìều tối thì tập họp kiểm thảo công tác trong ngày . Sau đó là giờ tự do , chúng tôi đi chung quanh giao thông hào tìm mhững chai nhựa, thùng nhựa để đốt làm ánh sáng, đây là năm đầu tiên chúng tôi ăn Lễ Giáng Sinh trong trại tù là những lô cốt trong trại.

Vấn đề ăn uống thì họ cho ăn gạo mốc đem từ trong rừng về cho chúng tôi ăn, và luộc rau muống chấm nước muối pha loãng, sau 3 tháng thì ăn khoai mì, chúng tôi bắt chuột lột da rồi nướng để ăn, bắt cào cào, dế , con gì nhúc nhích là ăn hết. Vào đầu năm 1976 trước khi chuyển trại, bọn VC đã xử bắn anh Ngô Nghiã để áp đảo tinh thần cho những ai muốn trốn trại sẽ bị xử như vậy.

2/- Ngày 25/5/1976 vào khoảng chiều tối, chúng tôi bị chuyển qua trại Long Giao và dọn dẹp kho đạn Long Khánh bị nổ trước đó mấy tháng. Đến ngày 7/7/1976 chúng bắt chúng tôi đi gỡ mìn chung quanh kho đạn. Sinh hoạt cũng y như vậy là vào buổi sáng khai lý lịch, học tập chính sách khoan hồng của nhà nước, rồi đi lao động trồng khoai mì, đào giếng. Tối về lại kiểm thảo, sau đó anh em Công giáo tụm nhau thành từng nhóm kín đáo đọc kinh lần chuỗi và đọc lời Chúa, vì cũng có người mang theo kinh thánh. Mỗi cuối tuần chúng bắt chúng tôi bắt chúng tôi bầy hàng đồ dùng cá nhân để khám xét và tịch thu cái gì chúng cho là phản động hoặc có gì đáng giá là chúng lấy, thời gian này ở ngoài đổi tiền, anh em chúng tôi lấy những tờ giấy bạc 500, 100 cắt ra làm đóm hút thuốc lào.

Về ăn uống thì thời gian này chúng cho ăn bột mì luộc bằng nắm tay / vì có Cha ở chung nên chúng tôi lột vỏ phơi khô làm Mình Thánh Chúa, ăn độn bobo , bắt chuột, ăn rau muống, rau đắng, chùm bao, lắy thuốc đạn thay củi đun bếp. Thời gian này bắt đầu xuất hiện cân tiểu ly để cân thức ăn sau khi đã chia vào đồ đựng, sau đó còn bốc thăm rồi mới được lấy phần của mình. Có lần một anh bị ốm không ăn được phần rau muống của anh cộng với của tôi gần nửa nồi tôi xơi hết vì đói qúa. Một hôm khi vào rừng lao động thì bắt được hai con mễn / trông giống con nai con/ về làm thịt cả trại được một bữa ăn thật ngon, vào mấy ngày sau trước khi chuyển trại họ cho 2 xe máy tẩy quần áo của Liên Xô mọi người xếp hàng mang quần áo của mình đi hấp. Bổng không biết sao máy bị hư nỗ tung làm 2 người chết,/ một bộ đội và một tù nhân/ anh em bảo 2 mạng này chết thay cho  2 con mễn bị làm thịt hôm trước.

Phần lao động thì vào rừng đốn cây làm củi, lấy mái tôn làm thùng gánh nước, gỡ vách gỗ làm đàn guitar , lấy dây điện thoại làm giây đàn, lấy bao cát cắt làm áo mặc vì áo cũ rách hết, áo này đặc biệt lạnh thì thấy ấm, nóng thì cảm thấy mát, lại dễ giặt và mau khô. Cắt nồi nhôm làm lược, làm trâm gởi về cho gia đình vì lúc này cho thăm nuôi. Có người thắc mắc là Cách mạng nói đi học tập 10 ngày là cho về, nhưng nay cả năm mà chưa thấy tăm hơi gì? Thì chúng lên lớp bảo là Cách mạng nói các anh mang theo tiền và lương thực trong 10 ngày còn sau đó nhà nước lo hết, thế là tôi nghĩ chắc là đi tù mọt gông không biết ngày nào ra đây???

Trước khi chuyển trại ra bắc chúng phát mỗi người 1 bộ quần áo tù sọc ngang màu nâu và cà phê sữa để dễ kiểm soát .

HỒI KÝ TÙ CẢI TẠO  (Phần 2)

3/- Ngày 23/5/1977 sau khi lao động về chiều tối họ tập họp chúng tôi bắt lên xe Molotova bít bùng, chở chúng tôi đi , khi đến nơi mới biết đây là cảng New Port ở xa lộ Biên Hoà, chúng tôi xuống một tầu buôn, xuống hầm tầu chúng kéo thang giây lên, chúng tôi ngồi như cá hộp. Sáng hôm sau chúng cho mỗi người một mẩu lương khô Trung Cộng, còn nước uống chúng tôi mang theo trong lon guigo để uống, nóng bức và hôi thối vì, khi đi tiểu xong chúng kéo thùng phân và nước tiểu lên sóng sánh đổ cả lên đầu những người ở dưới, sau 3 ngày tàu đến Hải Phòng. Lên bến thì thấy một giàn chào toàn chó Bergê và bộ đội tay súng AK chờ sẵn , dọc đường có những thùng phuy đựng nước uống cho chúng tôi trước khi lên tầu hoả ở ngay bến tầu. Đêm đó chúng chuyển chúng tôi lên Yên Bái, đến gần sáng ở dọc đường bị dân chúng ném đá la ó chửi rủa thậm tệ. Khi tới nhà ga thì chúng tôi bị còng tay 2 người một lên xe Molotova chở lên núi Hoàng Liên Sơn, nơi đó đã có sẵn những dãy nhà bằng tre do các anh đến trước làm sẵn, chúng tôi ở đây 5 tháng,

        Buổi sáng vẫn học tập về tội ác Mỹ Nguỵ và chiến thắng của Cách Mạng trước khi đi lao động. Đúng là lao động khổ sai, chúng bắt chúng tôi đập đá trên núi, làm đường chỉ tiêu mỗi ngày 2 mét đường đủ rộng cho xe hơi chạy được,  sau đó là phải vào rừng tre chặt vầu, một loại tre lớn trong có chứa nước, đôi khi khát qúa chúng tôi phải uống nước từ trong ống vầu, vì vậy nhiều người bị sốt rét ngã nước. Chỉ tiêu ngày 7 cây, có khi vưà chặt xong thì không tài nào kéo xuống được vì dây leo cuốn chằng chịt đành phải bỏ, chặt cây khác, trong rừng đầy vắt nó cứ bám vào cổ mà hút máu đến khi thấy ngứa là nó bay mất. Có đội thì đi đốn cây về cưa xẻ làm gỗ, đội chăn nuôi, vì ở trên núi chúng bắt chúng tôi cầy ruộng nấc thang, cứ 2 người kéo thay trâu thì 1 người cầm cầy.,lên rừng lấy lá cây làm phân, rồi đắp đê ngăn nước suối chuyền ống tre dẫn nước vào ruộng , có một đêm mưa thật lớn nên đê bị vỡ , cả trại phải thức dậy đi đào đất cứu đê .Một số lên chỗ cao đào đất đá rồi chuyền xuống chỗ vỡ , ở đó cứ 2 người dọng cừ dùng một khúc gỗ cao tới bụng đường kính khoảng 40 cm đóng thanh ngang nâng lên dọng xuống cho chặt đất, làm cả đêm không ai ngủ được...

       Về ăn uống thì phải đào sắn để ăn/ vì các anh đến trước đã trồng sẵn trước khi rời trại/ rồi phải vào rừng đốn măng về nấu ăn, chỉ tiêu ngày 30 ký, khoảng một bao bố đầy. Có lần tôi vào rừng đốn măng mãi đến khi mặt trời đứng bóng chỉ mới có nửa bao mà đã hoa cả mắt, tôi ngồi nghỉ cầu nguyện, tôi nhắm mắt đọc câu Lời Chúa : Lạy Chúa, Chúa phán ai xin sẽ được, ai tìm sẽ gặp, ai gõ sẽ mở cho (Lc 11:9)  xin Chúa cho con tìm được măng con cần trong ngày hôm nay, lạ thay khi mở mắt ra nhìn đâu tôi cũng thấy măng, tôi tạ ơn Chúa và chặt cho đầy bao rồi mang về. Ngoài ra mỗi sáng chúng tôi được một bát bắp đá đủ màu sắc , vừa ăn vừa đếm đúng 30 hột ; cả năm đó có một con trâu  chết nên chúng tôi được một bữa ăn có tí thịt, một người được 1 miếng thịt bằng 2 đốt ngón tay, ngoài ra còn được ăn da trâu hầm cho nhừ cũng được một miếng. Sừng trâu và móng chúng tôi chia nhau cưa làm Thánh giá, tượng mẹ bồng con v.v....có  lần tôi bắt được một con rất núi dài bằng gang tay, tôi chặt đầu đuôi và nướng lên mấy anh em bạn cũng hưởng một chút Protein ăn rất ngon.

Một đêm đang ngủ thì nghe tiếng kẻng báo động, thì ra có 2 người trốn trại, sáng hôm sau cả trại bị tập họp phơi nắng và cán bộ lên lớp : Các anh không thể thoát khỏi nơi này đâu, quả thật chỉ sau 2 ba ngày thì 2 anh bị  dân quanh vùng bắt lại và đưa về trại. Tội nghiệp hai anh bị nhốt trong cũi tre ngay trước cổng trại , nằm không được, ngồi cũng không chỉ lom khom, và bị bỏ đói cho tới khi chết , mỗi ngày trước khi đi lao động thì chúng tôi phải nhìn cảnh ấy thật xót xa cho thân phận người tù của CS .  

4/-Đến ngày 25/10/1977 chúng tôi bị chuyển trại qua Lào Cay gần biên giới Trung Cộng , chúng bắt chúng tôi phải vào rừng đốn củi, chặt vầu, làm ruộng, trồng bắp, khoai mì, làm đường, nhồi đất sét pha với rạ băm nhỏ , đổ nước vào rồi đạp cho tới khi đất dẻo lại rồi đóng khuôn thành gạch phơi khô, xong chất củi gỗ đốn trong rừng rồi xếp gạch chung quanh cao như hình nấm chỉ chừa một cửa nhỏ ở dưới để châm lửa đốt nung cho tới khi gạch đỏ ; khoảng hơn một tháng là xong , họ chuyển gạch về thành phố để xây dựng nhà cửa, còn vầu thì nghe nói chuyển về nhà máy làm giấy .Có một hôm tôi bị ốm phải ở trong trại ngồi vót tre đan rổ rá, thì khoảng trưa tôi bị gọi lên trạm xá, ở đây có một anh mới chết (tôi không rõ tên anh) họ bắt 3 anh em chúng tôi phải đi chôn anh, họ để hòm trên xe cải tiến, loại xe 2 bánh có 2 càng để kéo, một anh kéo xe một anh đẩy hòm và tôi cầm cuốc xẻng đi theo lên núi, khi đi dọc đường, các anh đang làm ruộng đứng nghiêm ngả nón chào vĩnh biệt người bạn tù quá cố, nhìn cảnh này tôi ứa nước mắt khóc cho thân phận mình một ngày nào đó cũng sẽ như vậy.Khi lên tới dốc núi, 3 người chúng tôi thay phiên nhau đào huyệt, rồi một tên quản giáo bảo: các anh kéo xe hòm lên phiá trên huyệt và nhấc càng xe lên, thế là hòm tuột xuống hố.chúng tôi lấp đất và cán bộ cho ngồi nghỉ  ít phút, lợi dụng thời gian này chúng tôi đọc kinh cầu nguyện cho linh hồn người quá cố sớm về nơi vĩnh cửu. Khi đi lao động có khi anh em trại này gặp người ở trại khác chuyển tin cho nhau như: Ở ngọn núi cao nhất là nơi các vị chức sắc cao cấp như Tướng Tá, Linh Mục, Giám mục bị nhốt ở đó gọi là Trại Cổng Trời , họ bảo nhau là mỗi tối trước khi đi ngủ thì hướng về đó để thông công cầu nguyện, chúng tôi gọi đó là Vatican, đây cũng là nơi Đức Giám Mục Nguyễn Văn Thuận bị giam, sau này Ngài là Hồng Y được qua Rôma thuyết trình quá trình cải tạo của Ngài cho toàn thế giới biết.

5/- Vào đầu năm 1979 Trung Cộng đánh qua biên giới, họ biết trước nên vào ngày 16/6/1978 họ chuyển chúng tôi vào tỉnh Vĩnh Phú ở phiá Nam gần Hà Nội, họ nhốt chúng tôi chung với tù hình sự do Công An quản lý. Sau vài tuần có mấy tên Quản giáo trước ở Lào Cay về báo là những lò gạch do chúng tôi làm đã bị bọn Trung Cộng qua khiêng về Tầu hết không còn viên nào ??? Chúng tôi ở trại tù Phong Quang khoảng 2 năm. Ở đây nhà tù kín cổng cao tường và có nhà tôn và nằm giường xi măng, không còn ở nhà lá vách tre nữa, cũng có giếng nhưng rất tiết kiệm,mỗi lần tắm chỉ được một lon Guigo nước nhúng khăn vào vắt rồi lau người cho đến khi nước đen thui mới đem rửa chân. Ở đây chúng tôi được chia làm nhiều đội như: Đội chăn nuôi, đội cưa xẻ, đội rau xanh, đội mộc, đội lò rèn, đội văn nghệ. Riêng tôi được ở đội Văn nghệ,chúng tôi tập hát những bài nhạc của kháng chiến, rồi nhạc chiến thắng như có Bác Hồ ...cũng như múa điệu dân ca Cái Trống Cơm, Cây đèn cù,kịch kháng chiến chống Pháp , Hội nghị Diên Hồng v.v... Tôi nhớ khi diễn hoạt cảnh Hội nghị Diên Hồng xong, sáng hôm sau cả đội bị lên lớp: Các anh có ý gì mà cứ chiã gươm giáo vào cán bộ quản giáo vậy???   Số là khi hát đến đoạn:Thế nước yếu nên hoà hay nên chiến? Quyết chiến. Tất cả vũ công chiã gươm giáo ra phiá trước khán giả, cả nhà vỗ tay, thế là bị kiểm điểm ngay. Có người bạn, anh ở đội chăn nuôi kể là hôm chúng tôi được ăn thịt lợn là do anh bí mật nhét hột đậu xanh vào lỗ tai lợn, nó khó chịu qúa cứ đập đầu xuống đất như điên dại, thế là cán bộ bảo : làm thịt. . . thế là anh em có chút protein tẩm bổ .

Thời gian ở đây cũng được thăm nuôi. Tin tức ở ngoài được chuyển vào; nào là chuyện vượt biên 7 người đi bằng ghe, chuyện vợ ở nhà bỏ đi lấy chồng khác để nuôi con, chúng tôi rất hoang mang, quà thăm nuôi đại khái giống nhau, như thuốc lào, thuốc  lá có cán như Salem, Mall borro, Capstan từ nước ngoài gửi về, đường thẻ, thuốc ho, bột bích chi, áo quần, thế là cuối tuần chúng tôi mỗi người 3 cục gạch làm bếp nấu nướng, chia sẻ cho nhau những món quà thăm nuôi, chúng tôi nhồi khoai mì nướng làm bánh, nấu chè khoai mì, bắt cóc nhái ngoài ruộng về làm thịt, vì trại tù có nhiều khu xây tường chung quanh chỉ có một cửa chính ra vào thôi, ban ngày thì mở ban đêm thì khóa lại. Cán bộ Công an cũng thân mật hơn vì chúng tôi cho họ thử thuốc lá ngoại, họ thích lắm, họ thích nghe chúng tôi hát nhạc vàng, chơi nhạc ngoại quốc, có anh phi công kể chuyện đi học lái bên Mỹ, rồi chuyện Dysneyland, chúng tôi kể chuyện đời lính, ăn nhậu nhảy đầm và tối họ canh cửa cho chúng tôi hát, họ dễ dãi cho chúng tôi đủ chuyện, có anh Cán bộ kể cho tôi nghe là gia đình anh có người vượt biên qua Hong Kong, và nói nhỏ khi nào ra thì tìm cách đi đi chứ ở đây như chúng tôi thì khổ lắm. Có một phép lạ khi thăm nuôi , một Cha có người nhà gởi hàng chục tấm Mình Thánh chưa làm phép được dấu trong gói bột Bích chi, khi khám xét họ đổ hết ra bàn coi có gì phải tịch thu thì không thấy gì hết, rượu lễ thì bỏ trong lọ thuốc ho, thế là chúng tôi được rước Mình Thánh Chúa trong thời gian đó, mỗi ngày chỉ bẻ một miếng nhỏ hơn móng tay, còn lại thì dấu trong mũ đội lên đầu, để Chúa cùng đi lao động với mình.

     Công tác ở đây chính là làm ruộng, chúng tôi phải vất vả từ đầu đến cuối, lúc đầu là cuốc đất, cầy ruộng, tát nước, bừa rồi gánh phân bắc (phân người) và vào rừng lấy phân xanh,gieo mạ, nhổ mạ, cấy lúa , làm cỏ, lúc này bị điả đói cắn nát chân, xong đến mùa thì gặt lúa, rồi đập lúa, phơi lúa, xủi lúa bằng chân không... để đảo lúa cho mau khô, chất vào kho rồi xay lúa, chúng tôi được dịp mót lúa để nấu cháo lỏng mà uống cho đỡ thèm. Ngoài ra thỉnh thoảng chúng tôi phải ra sông kéo phà đưa xe hơi qua sông, bằng một sợi dây thừng to bằng cổ tay nối liền hai bờ sông chúng tôi khoảng 20 anh em ở trên phà kéo bằng tay đưa phà qua sông vì máy phà bị hư chưa sửa xong. Lúc này dân chúng ở đây cũng tỏ ra thân thiện với chúng tôi nên cũng dễ thở, từ năm 1980 bắt đầu có những người được thả về. Cứ sáng trước khi đi lao động thì nghe gọi tên, ai có tên thì ở lại làm việc với cán bộ. Mới đầu ai cũng sợ không biết số phận họ ra sao??? Nhưng sau này khi nghe họ gọi đến tên, tôi ở lại với khoảng 15 người thì mới biết mình được thả, không kịp chào hỏi anh em, những gì thấy không cần mang về thì tôi để lại trên giường ngủ cho người bạn bên cạnh dùng.

     Họ dẫn chúng tôi lên văn phòng trại làm giấy tờ ra trại , họ phát cho chúng tôi mỗi người 30 đồng, và chở ra ga Hàng Cỏ Hà Nội, chờ xe lửa vào Nam, tôi và anh bạn thân vào tiệm phở Bắc ăn ngay một tô 3 đồng, ôi cha ... nó ngon làm sao, thấy chúng tôi một số người lao động buôn gánh bán bưng, xe ôm, xích lô đến chúc mừng: Các anh học tập tốt được về ăn tết vui nhé... tôi gặp một anh xích lô nói: tôi còn Bà Nội và người cô ở số nhà 55 đường Duy Tân,Ngõ Huế nhờ anh về nhắn hộ Bà là tôi được về rồi, ngay tức khắc anh bảo: tôi biết nhà đấy , chờ tôi về đón Bà ra gặp anh cho. Chừng 15 phút sau anh xích lô chở bà nội và cô của tôi với người em gái con cô chạy xe gắn máy đến thăm tôi, Bà cháu ôm nhau mừng tủi sau mấy chục năm xa cách. Sau đó chúng tôi lên tàu lửa tiến về Nam.

     Tàu chuyển bánh từ từ ,lòng tôi thật vui như vừa từ cõi chết sống lại . . .Tạ ơn Chúa đã gìn giữ tôi còn sống đến giờ này . Tàu chạy từ Hà Nội, qua Nam Định,Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh qua các làng mạc, thành phố nghèo nàn, dân chúng miền Bắc chỉ vẫy tay chào các anh Ngụy học tập tốt được về đoàn tụ gia đình, chúc ăn tết vui vẻ. .v.v

     Nhưng khi xe lửa qua cầu Bến Hải đến nhà ga Quảng Trị thì bà con miền Nam mừng rỡ đón chào ,chúc mừng và hỏi thăm tin tức thân nhân còn ở lại trong tù, họ biếu tặng chúng tôi bánh ú, khoai, sắn, trái cây vì biết chúng tôi mới ra tù nên tiếp tế cho chúng tôi dùng trong lúc đi đường. Tôi còn nhớ đến nhà ga Quảng Ngãi gọi là ga gà tôi mua ngay một con gà luộc và một xị đế 5 đồng, tôi và một người bạn thân cùng ăn ngấu nghiến cho đã thèm. Lúc về tới ga Bình Triệu, xuống tầu thì có rất nhiều anh em Hạ sĩ quan chạy xe xích lô máy và xe ba gác mừng rỡ ra đón chào tay và nói: Chào mừng các ông thầy mới về nha... nghe thật cảm động tình Huynh Đệ Chi Binh ; rồi họ hỏi ai về đâu thì họ chở về không lấy một xu, mỗi xe khoảng 4, 5 người cùng đường. Khi tới gần nhà tôi ở chợ Tân Định , tôi xuống xe nhìn con đường xưa mà ngậm ngùi, lúc đó khoảng 11 giờ khuya, tôi đi thật chậm  không dám về nhà ngay, kỷ niệm xưa hiện ra ngay trước mắt  . . . .  Lúc tới cửa nhà tôi mới lên tiếng ,bà ngoại và các em tôi chạy xuống ôm tôi khóc nức nở, hàng xóm nghe vậy cũng chạy qua chúc mừng tôi được thả. Đêm đó tôi không ngủ được. . . tới sáng ra trình diện ở phường, thì phường đóng cửa nghỉ Tết. Thế là tôi thoải mái ở nhà ăn tết thiệt vui, các em tôi đốt pháo mừng thật nhớ đời !!!

     Tôi cảm thấy vừa mừng vừa lo, vì vừa ra tù nhỏ thì lại sắp vào nhà tù lớn hơn, không biết ngày mai sẽ ra sao ??? Thế là tôi tìm đường vượt biên. Vì gia đình bố mẹ tôi và các em nhỏ đã qua Mỹ từ năm 1975 và đó là động lực khiến tôi vượt biên ... và chưa được một tháng tôi đã đi thoát qua Trại Tị Nạn Pulau Bidong.

  Cựu tù Nguyễn chí Long

Orange County – California 2020

 


Viện Bảo Tàng " Lê Trị"

 

‘Viện bảo tàng’ thu nhỏ của cựu sĩ quan VNCH ngay Little Saigon

Đoan Trang/Người Việt

SANTA ANA, California (NV) – Trong một khu mobile home ngay Little Saigon có một “phòng tranh miễn phí ngoài trời” để ai cũng có thể đến thưởng ngoạn. Chủ nhân “phòng tranh” ấy là ông Lê Trị, một cựu sĩ tình báo Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa (QLVNCH).

Ông Lê Trị bên giàn gấc trồng sau nhà. (Hình: Đoan Trang/Người Việt)

Nhưng sở thích của người ở tuổi bát thập đắc hi hỉ ấy, không chỉ là nhiếp ảnh.

Chụp hình nghệ thuật cho đời thêm tươi!

Ông Lê Trị, 82 tuổi, là tác giả của hàng chục ngàn ảnh nghệ thuật, được chép vào ba USB, mà theo ông, tổng cộng chiếm 3 Terabyte, “rất nhiều!”

“Phòng tranh” của ông có khoảng gần 100 bức, do ông tuyển chọn, tự đóng khung và treo lên hai bức tường bên hông ngôi nhà mobile home thuộc thành phố Santa Ana.

Chiều chiều, cư dân trong khu mobile home đi tập thể dục, lại ghé qua ngắm “phòng tranh” của ông Trị.

Cách đây hơn chục năm, ông Trị bước vào môn nghệ thuật khá muộn màng ở tuổi “thất thập cổ lai hy.” Ông nói: “Chân yếu, động tác di chuyển chậm là trở ngại lớn đối với bản thân tôi. Tuy nhiên do sẵn có máu đam mê ảnh nghệ thuật, sau một năm học, tôi đã cố gắng ghi nhận được một số tác phẩm nghệ thuật cho đời thêm tươi vui.”

Trong khoảng chục năm, ông hăng say đi săn ảnh cùng với nhóm nhiếp ảnh gia trẻ, tới những vùng như White Mountain cao 14,000 foot, Bishop lạnh 18 độ F, Mono Lake, Body Town… sang tới Death Valley với độ nóng trên 100 độ F. Ông cũng có hai lần đặt chân tới “thiên đường sắc thu” New England, nơi giáp với New Hamsphire, Vermon, Maine, để săn ảnh mùa Thu.

Các chuyến đi của ông thường rơi vào mùa Thu, mùa đẹp nhất trong năm, quyến rũ, thanh tao, không gắt gao như mùa Hạ; không buốt giá như mùa Đông, cũng không quá rực rỡ như mùa Xuân.

Ông Trị có niềm đam mê nghệ thuật ảnh từ lúc đi học khóa tình báo Okinawa (Nhật Bản) hồi năm 1965. Sáu khi mãn khóa học, ông trở về nước, giữ chức vụ Sĩ Quan Tình Báo QLVNCH liên tục 10 năm với ngụy tích là giáo sư Toán Lý Hóa đệ nhất và đệ nhị cấp tại hai trường Đồng Tiến và Khai Trí.

Tấm hình “Kỷ Vật Trong Tù” là cây đàn violin cuối cùng ông Lê Trị làm trong nhà tù. Nay cây đàn này đã được tặng cho Viện Bảo Tàng Di Sản Người Việt. (Hình: Đoan Trang/Người Việt)

Nghệ nhân “bất dắc dĩ”

Cuộc đời ông, dạy học 14 năm, trong đó tính cả 10 năm “đi lính mà không mặc áo lính” (vì là tình báo), và 13 năm trong tù Cộng Sản.

Sau biến cố 30 Tháng Tư, 1975, ông Trị nghe “dụ” là chỉ phải đi “học tập cải tạo” 10 ngày, nên mang theo quần áo và 10,000 đồng Việt Nam, “yên tâm” để lại người vợ còn khá trẻ và sáu con dại. Ông không ngờ, cái ngày chia tay vợ con ấy, mãi đến 13 năm sau gia đình ông mới được sum họp.

“Hồi ấy, tù nhân chúng tôi chỉ được ăn mỗi bữa nửa trái bắp. Cứ ba tháng mới được ăn một bữa cơm, mà cũng chỉ là nửa chén, còn độn thêm khoai lang, khoai mì,” ông Trị kể. “Sự đói khổ đối với sĩ quan chúng tôi chẳng hề hấn gì, chúng tôi chịu đựng được, như ‘đau’ nhất là có những đứa con nít 18, 19 tuổi nói hỗn với mình, nói ‘thay mặt chính phủ’ để giáo dục mình.”

Nuốt hận, đè nén niềm đau, “máu nghệ sĩ” trong người ông Lê Trị không ngừng chảy trong suốt thời gian bị tù đày. Ông kể: “Trong tù, tôi thấy có mấy anh hay hát và cầm cây củi giả vờ làm đàn, có anh dùng thùng xăng, thùng phuy gõ làm trống. Thương quá! Bữa đó gần Tết, anh em cùng nhau hát mấy bản nhạc Xuân, nhạc lính, vui lắm! Tôi mới nghĩ, âm nhạc làm con người ta trẻ lại, nên tôi quyết định làm đàn.”


Ông Lê Trị và “phòng tranh” bên hông nhà. (Hình: Đoan Trang/Người Việt)

Vì đã biết công thức làm đàn, ông Trị đi vát nứa, cưa gỗ làm thùng đàn, dây đàn là thắng xe đạp. Không có keo dán, ông lấy da bò, da trâu nấu lên lấy nhựa dán.

Trở thành nghệ nhân “bất đắc dĩ” trong tù, hơn 13 năm, ông dành mọi thời gian nghỉ ngơi, thực hiện được gần 100 cây đàn guitar và 15 cây đàn violin.

Cây đàn violin cuối cùng ông làm năm 1984, cũng là cây đàn kỷ vật ông đem đi khi định cư ở Mỹ năm 1988 theo chương trình HO 16. Ông chụp hình cây đàn cuối cùng này và đặt tên cho tác phẩm là “Kỷ Vật Trong Tù” kèm bài thơ ông tự sáng tác: “Mười ba năm lẻ tù ‘cải tạo’/ Kỷ vật còn đây gọi nhớ đời/ Đã từng nắn nót trên cung phím/ Kết bạn cùng ta lúc đơn côi.”

Mới đây, ông Lê Trị đã trao tặng cây đàn “Kỷ Vật Trong Tù” này cho Viện Bảo Tàng Di Sản Người Việt, cùng với một bộ tem thời Việt Nam Cộng Hòa.

Chơi tem cũng là thú vui của người cựu sĩ quan QLVNCH, từ khi còn rất trẻ.

Trở về bến đậu thong dong hưởng nhàn

“Sở thích của con người trải qua nhiều giai đoạn khác nhau,” ông Trị tâm sự. “Hồi còn đi học tôi ham mê sưu tầm tem để tìm hiểu biến chuyển lịch sử của một quốc gia, nhất là đất nước Việt Nam ở thời đại mà tôi đang sống từ thập niên 1930. Chẳng hạn tác phẩm ‘Trúc Xinh’ mà Tổng Thống Ngô Đình Diệm đã chọn làm biểu tượng cho mình, hay tác phẩm ‘Di Cư’ bằng chiếc thuyền nan mong manh đi tìm tự do.”

Ông Lê Trị bên bộ sưu tập tem. (Hình: Đoan Trang/Người Việt)

Ông Trị đã hoàn thành bộ tem này, tính từ năm 1930 đến 1975, trong đó có nhiều con tem có ấn tín  “Ngày Phát Hành Đầu Tiên” của VNCH.

Quý nhất là những con tem có “tuổi thọ” gần 70 năm, như tem “Cựu Hoàng-Hậu Nam Phương” (Empress Nam Phương), phát hành ngày 15 Tháng Tám, 1952, in tại nhà in Hélio – Vaugirad Paris; tem Liên Hiệp Bưu Chính Quốc Tế (Coastal Scene and UPU Emblem), phát hành ngày 12 Tháng Chín, 1952; tem Hoàng Tử Bảo Long (Crown Prince Bao-Long in Annamite Costume), phát hành ngày 15 Tháng Sáu, 1954, có hai kiểu: kiểu hoàng tử mặc quốc phục Đông Cung Thái Tử, và kiểu hoàng tử mặc quân phục Đại Tá danh dự Ngự Lâm Quân đeo kiếm.

Hay tem Tổng Thống Ngô Đình Diệm phát hành đầu tiên ngày 9 Tháng Mười Một, 1958, tem Dinh Độc Lập phát hành đầu tiên ngày 7 Tháng Chín, 1959… cho đến những con tem cuối cùng của chính phủ VNCH như tem kỷ niệm ngày Nông Dân Việt Nam, phát hành ngày 26 Tháng Ba, 1975.

Khi đã “trở về bến đậu thong dong hưởng nhàn” như lời ông nói, cùng với “niềm vui còn sót lại” là đi tìm cái đẹp qua ống kính nghệ thuật nhiếp ảnh, ông còn có gần 10 năm làm thiện nguyện cho Hội Help The Poor chuyên đi giúp người nghèo khổ trên đất nước Việt Nam, cho đến năm 2006.

Mấy tháng dịch bệnh, không đi xa để chụp hình được, ông Trị ở nhà trồng cây với mục đích “khi nó ra hoa, kết trái, thì mình lại chụp hình.” Ông khoe, cây gấc ông trồng năm ngoái không ra trái nào, nhưng năm nay, đếm đã có hơn chục trái. Còn các gốc mãng cầu ghép, dàn mướp, táo, đều “hứa hẹn” sẽ tạo cảm hứng cho ông sáng tác những bức ảnh nghệ thuật.

Ông Lê Trị còn có nghề mộc. Trong hình, đài Đức Mẹ do ông tự làm đặt trước cửa nhà. (Hình: Đoan Trang/Người Việt)

Mấy tuần nay, cứ dự xong các Thánh Lễ, vốn có nghề mộc sau khi mãn hạn tù, người cựu sĩ quan lại “kiếm việc,” đi làm hàng rào cho bà con chòm xóm. Và ai đặt làm hình Chúa kiểu 3D, ông vẫn nhận làm và “ship” đi các nơi trên toàn nước Mỹ.

“Cuộc đời thấy hãy còn bận rộn lắm nhỉ!” nhiếp ảnh gia Lê Trị nói. “Với niềm tin và phó thác, thôi thì ta cứ vô tư an nhàn, vui vẻ như ngọn sóng bạc đầu kia đêm ngày reo vui, mặc cho thế sự xoay vần:

“Bạc đầu sóng vỗ văng tung tóe/ Mặc cho thế sự vẫn reo vui,” ông Lê Trị đọc câu thơ của mình. (Đoan Trang) [qd]

https://www.nguoi-viet.com/little-saigon/littlesaigon-phong-su/vien-bao-tang-thu-nho-cua-cuu-si-quan-vnch-ngay-little-saigon/


Monday, September 28, 2020

BIIÊN NHÂN 2019

 



HOÀNG VŨ VÀ TRUNG ĐOÀN 54 BẠCH HỔ

 

Trung Úy Hoàng Vũ và Trung Đoàn 54 Bạch Hổ trên mặt trận Tây Huế

Sep 26, 2020 cập nhật lần cuối Sep 27, 2020

Văn Lan/Người Việt

WESTMINSTER, California (NV) – Từ năm 1968 trở đi, tình hình chiến sự tại miền Nam Việt Nam bắt đầu ác liệt với sự xâm nhập của các đơn vị chính quy Cộng Sản tiến vào miền Nam ngày càng nhiều trên các mặt trận. Điều đó càng thôi thúc chàng trai trẻ Hoàng Vũ quyết tâm gia nhập quân đội.

Ông Hoàng Vũ kể lại trận đánh đồi Bastongne, nơi ông bị bắt làm tù binh. (Hình: Văn Lan/Người Việt)

Ông Hoàng kể, khi những chiến trường ở miền Nam ngày càng khốc liệt vì cuộc chiến Việt Nam đang hồi gia tăng thì Cộng Sản lộ rõ bộ mặt thật khi tấn công miền Nam trong trận Tết Mậu Thân 1968.


Bị tung hỏa mù

Năm 1969, ông Hoàng vào Khóa 27 Thủ Đức, sau khi ra trường về trình diện đơn vị Quân Báo Phòng 2 Tổng Tham Mưu. Sau khi được điều tra an ninh lại, ông được đi học khóa huấn luyện tại căn cứ 49 để học về chuyên môn.

Sau đó ông được cử qua trường USARPAC (United States Army Pacific) ở Okinawa, Nhật, học về sưu tập tình báo chiến trường, rồi học chuyên môn chung với nhiều quân binh chủng Việt Nam Cộng Hòa gồm Không Quân, Hải Quân, Lục Quân, An Ninh Quân Đội, Phủ Đặc Ủy Trung Ương Tình Báo, và cả những nước thuộc khối đồng minh.


Về nước, ông trình diện đơn vị 101 ở Sài Gòn và Đoàn 68 đặt tại Đà Lạt. Ông Hoàng thuộc Toán 25, là trưởng lưới tình báo với nhiệm vụ đọc lại các tài liệu thuộc các tỉnh Vùng II Chiến Thuật. Khi về các tỉnh ông thường đi một mình hoặc có khi cùng với một người mang máy liên lạc để tổ chức mật báo viên ngụy trang, hoạt động xâm nhập những cơ sở Việt Cộng để sưu tập tin tức, chương trình này do Mỹ chỉ huy.

Ông cho hay: “Năm 1969, các tỉnh thuộc Vùng II Chiến Thuật còn yên, tình hình chiến sự tương đối lắng dịu dọc duyên hải gồm các tỉnh Bình Tuy, Bình Thuận, Ninh Thuận, Khánh Hòa, Phú Yên, Quy Nhơn , Quảng Ngãi, Quảng Nam. Còn các vùng rừng núi gồm các tỉnh Long Khánh,  Bảo Lộc, Tuyên Đức (Đà Lạt), Ban Mê Thuột, Bình Long, Phước Long, Kon Tum, Pleiku, và dọc theo biên giới Miên, Lào cũng vậy. Cho đến mùa Hè 1972, đã có những cuộc di chuyển của quân Cộng Sản Bắc Việt xâm nhập miền Nam ở Kon Tum theo sự báo cáo của các toán khác mà tôi được biết.”

“Năm 1970 khi về họp toán với các cố vấn Mỹ, họ kêu gọi chúng tôi phải viết về những kế hoạch kinh tế thời hậu chiến, trong khi nhiệm vụ chúng tôi là phải đi thu thập tin tức tình báo chiến trường! Lúc đó tôi lấy làm lạ, sau này mới hiểu là người Mỹ đã tung hỏa mù khiến phe mình cứ nghĩ là cuộc chiến sắp kết thúc, hòa bình lập lại và xây dựng kinh tế hậu chiến là mục tiêu hàng đầu,” ông nhớ lại.

Chuẩn Úy Hoàng Vũ lúc mới ra trường Khóa 27 Thủ Đức. (Hình: Hoàng Vũ cung cấp)

Ông kể: “Nếu xây dựng kinh tế hậu chiến thì thì không đúng chuyên môn của người lính, nên chúng tôi vẫn làm nhiệm vụ trên mặt trận như từ trước, còn việc hoạch định kinh tế phải để cho các chuyên viên kinh tế thực hiện, chúng tôi vẫn tiếp tục chiến đấu khi diễn tiến cuộc chiến đấu bảo vệ tự do của miền Nam ngày càng xấu đi, các khoản viện trợ Mỹ bắt đầu bị cắt giảm lần từ 1973, trong khi Cộng Sản Bắc Việt được sự viện trợ quân sự tối đa từ Liên Xô và Trung Cộng để tấn công vô miền Nam!”

“Sau khi Hiệp Định Paris 1973 ký kết, trong đó có các điều khoản như hai bên ở yên vị trí để chờ giải pháp tổng tuyển cử tự do, người dân miền Nam tự quyết định tương lai chính trị thông qua tổng tuyển cử tự do, không có sự can thiệp của nước ngoài, các bên ngừng bắn tại chỗ, trao trả tù binh cho nhau và thường dân bị bắt…,” ông nói.

Ông cho biết: “Ngay cả các khoản chi trong việc thu thập tin tức tình báo chiến trường cũng bị cắt giảm, trước đó khi hoạt động ở nơi nào, phải biết ngụy tích của mình là gì, phải hoạt động hợp pháp với nhiều vỏ bọc ngụy trang. Ngay cả ở quận Đức Lập tỉnh Quảng Đức, bắt đầu có nhiều trận đánh đánh lớn năm 1972, lúc đó tôi hoạt động với danh nghĩa là một thầy giáo khi trước đó tôi là một phóng viên dân sự.”

“Trong khi bên mình tuân thủ thì Cộng Sản Bắc Việt lại chuyển quân rầm rộ xâm nhập miền Nam ngày càng tăng với hàng sư đoàn, có cả xe tăng, hỏa tiễn 122 ly và đại bác 130 ly mà bên ta nếu có báo lên thì Mỹ cũng làm lơ trong khi miền Nam ngày càng thiếu thốn trầm trọng về vũ khí đạn dược, do đó khi Hiệp Định Paris được ký kết là tôi nghĩ ngay mình sắp tiêu,” ông nói tiếp.

Ông Hoàng Vũ (thứ ba, từ trái) cùng các bạn đồng khóa tại Okinawa năm 1969. (Hình: Hoàng Vũ cung cấp)

Tử chiến ở mặt trận Tây Huế

Lúc đó các đại đơn vị Cộng Sản từ Đông Hà, Quảng Trị, kéo vào và ở phía Tây thành phố Huế có các Sư Đoàn 324B, Công Trường 5 Đặc Công, Công Trường 4, Công Trường 6 cùng một trung đoàn pháo hạng nặng, đặt dưới sự chỉ huy của Quân Khu Trị Thiên Cộng Sản giao tranh với Sư Đoàn 1 Bộ Binh Việt Nam Cộng Hòa.

Trung Đoàn 54 Bộ Binh (biệt danh là Trung Đoàn Bạch Hổ) do Trung Tá Nguyễn Thanh Hạnh, trung đoàn trưởng chỉ huy, thuộc Sư Đoàn 1 Bộ Binh.

Mùa Hè Đỏ Lửa năm 1972, ông Hoàng được trực thăng bốc thẳng vào căn cứ Bastogne (Phú Xuân) Huế, là một cao điểm chiến lược ở mặt Tây Huế đã bị Cộng Sản chiếm giữ từ Tháng Hai, 1972. Lúc mới về Sư Đoàn 1, ông Hoàng là đại đội phó, thuộc Tiểu Đoàn 1/54, dưới quyền chỉ huy của Thiếu Tá tiểu đoàn trưởng Nguyễn Văn Hùng, án ngữ cao điểm 342.



Ông Hoàng Vũ lúc học ở trường USARPAC ở Okinawa, 1969. (Hình: Hoàng Vũ cung cấp)

“Khi tôi về đó thì Bastogne là một cứ địa trọng yếu thật khó nuốt, khi các đơn vị của ta chiếm lại được rồi cũng phải rút ra vì bị pháo liên tục không thể giữ được lâu, đến nỗi Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu đã tuyên bố đơn vị nào chiếm lại được, mỗi cá nhân của đơn vị đều được thăng một cấp bậc. Một tháng sau, Tiểu Đoàn 1 rút ra chuyển qua cứ điểm Checkmate (cao điểm 342),” ông nhớ lại.

Cứ đánh giằng co như vậy với Cộng Quân, Trung Đoàn 54 đảm trách từ phía Bắc căn cứ Bastogne cách Huế khoảng 12 km đường chim bay cho đến phía Nam cao điểm Checkmate 342, khi Tiểu Đoàn 1/54 án ngữ cao điểm 342 quanh căn cứ Checkmate, còn Tiểu Đoàn 2/54 phòng ngự căn cứ vòng đai quanh Bastogne, Tiểu Đoàn 3/54 và Tiểu Đoàn 4/54 phòng thủ chiều sâu, hành quân di động.

Lúc đó hai Tiểu Đoàn 1/54 và 3/54 cứ luân phiên thay thế nhau trong trận Bastongne, khoảng Tháng Bảy, 1972. Tiểu Đoàn 1/54 được lệnh trở lại tiến chiếm Bastogne một lần nữa khi Đại Đội Trưởng là Đại Úy Trí bị bệnh bất ngờ, ông Hoàng được lệnh thay thế chỉ huy Đại Đội 1.

“Tôi mới về chiến trường này nên chưa biết nhiều, chỉ biết khi pháo mình bắn vô, tiểu đoàn xung phong lên, Đại Đội 1 tiến vô luôn để tổ chức lại hệ thống phòng thủ hầm chỉ huy của Mỹ bỏ lại đã bị pháo đánh sập. Khi Đại Đội 1 vô nằm đó và các đại đội khác chốt chung quanh, có Thiếu Úy Hiệp, sĩ quan đề lô, đi cùng để chấm tọa độ phản pháo. Khi tôi vừa bước ra tuyến phòng thủ phía trước để coi sóc lại “con cái,” bỗng một trái pháo 130 ly rớt ngay hầm chỉ huy làm mấy sĩ quan cùng lính truyền tin tử thương tại chỗ, nhưng Thiếu Úy Hiệp thoát chết!” ông kể.


Học sinh Hoàng Vũ (hàng đứng trước, thứ ba, từ phải) tại trường trung học Phan Bội Châu Phan Thiết, 1963. (Hình: Hoàng Vũ cung cấp)


Ông Hoàng cho biết ông thoát chết trong đường tơ kẽ tóc này phải nói là nhờ ơn trên phù hộ, chứ người lính nơi chiến trường chỉ biết chiến đấu chứ có nghĩ gì đến thân mạng mình! Ông thương nhất là những cấp úy trẻ mới ra trường, chưa có kinh nghiệm trận mạc nên rất dễ dính đạn!

“Đi trên các đồi ‘yên ngựa,’ là những đường mòn từ ngọn đồi này qua ngọn đồi khác, khi bọn địch pháo cấp tập để chiếm lại đồi Bastogne, lính của tôi bị thương, trong khi mấy tên cán binh Cộng Sản chỉ lo lục lọi ba lô của lính mình để tìm lương thực, cho thấy chúng đã bị đói lâu ngày,” ông kể tiếp.

Sau đó căn cứ Bastogne đã được một toán cảm tử quân do một vị thiếu úy chỉ huy chiếm lại hoàn toàn, được trực thăng vận nhảy xuống tấn công vào ngay bộ chỉ huy Cộng Quân. Trung Đoàn 54 sau đó rút về di chuyển xuống Động Truồi, bộ chỉ huy Trung Đoàn đóng tại căn cứ La Sơn, chia ra những tiểu đoàn hành quân khắp vùng. (Văn Lan) [qd]

Kỳ cuối: Trận Động Truồi ở Huế và đời tù, vượt biển của Trung Úy Hoàng Vũ

 


SAIGON 100 NĂM TRƯỚC

Subject:  Những hình ảnh đẹp của Sài Gòn vào 100 năm trước



----

                  Những hình ảnh đẹp của Sài Gòn vào 100 năm trước 
               Việt Nam Sử Liệu - Sài Gòn Năm 1938 Tư Liệu Rất Hiếm

Những hình ảnh dưới đây của nhiếp ảnh gia Pháp Ludovic Crespin thực hiện vào đầu thập niên 1920 ở Sài Gòn sẽ khiến người xem ngỡ ngàng…

Hình chụp dinh Norodom vào năm 1920. Dinh này được xây dựng xong năm 1871, đặt tên theo tên của quốc vương Campuchia lúc đó. Từ năm 1871 đến 1887, dinh được dành cho Thống đốc Nam kỳ. Từ 1887 đến 1945, các quan toàn quyền Đông Dương sử dụng dinh thự này làm nơi ở và làm việc nên được gọi là Dinh Toàn Quyền. Tuy nhiên dinh chỉ thực sự được toàn quyền Đông Dương sử dụng cho đến năm 1906, trước khi chuyển ra Hà Nội để dùng Phủ Toàn Quyền.

Năm 1955, dinh Norodom đổi tên thành Dinh Độc Lập. Năm 1962, dinh được xây dựng lại và có hình dáng như ngày nay.

Bên trên tấm hình này là 2 toàn quyền của Đông Dương: Bên trái là Albert Sarraut (nhiệm kỳ 1911-1913). Ông này cũng từng làm thủ tướng Pháp năm 1933. Bên phải là Maurice Long (nhiệm kỳ 1920-1922).

Nhà hát Thành Phố Sài Gòn được chụp vào thập niên 1920. Nhà hát này được xây năm 1898 và khánh thành năm 1900. Từ 1955 đến 1975, nơi này từng là trụ sở của Quốc Hội và Hạ Nghị Viện.

Mặt trước của Nhà Hát là con đường Catinat. Phía bên phải là Hotel Continental, khách sạn đầu tiên của xứ Nam kỳ. Năm 1955, đường này đổi tên thành đường Tự Do, và năm 1976 trở thành đường Đồng Khởi.

Quảng trường trước nhà hát là đại lộ Bonnard. Từ năm 1955 đến nay, đại lộ này đổi tên thành Lê Lợi, quảng trường này được đặt tên là Công Trường Lam Sơn, cái tên gắn liền với nhân vật lịch sử Lê Lợi.

Quảng trường trước nhà hát nhìn từ phía Dinh Xã Tây (Tòa Đô Chánh)

Mặt sau của Nhà Thờ Đức Bà được chụp vào khoảng thập niên 1920. Công trình tôn giáo nổi tiếng này vẫn giữ nguyên kiến trúc cho đến ngày nay, sau 140 năm.

Mặt trước của Nhà Thờ Đức Bà

Góc ngã tư Channer – Bonnard, trước Dinh Xã Tây (Tức Tòa Đô Chánh sau này). Đây là giao lộ sầm uất nhất của Sài Gòn kể từ khi người Pháp xây dựng các tuyến đường trung tâm Saigon cho đến ngày nay. Kể từ 1955, giao lộ này là Nguyễn Huệ – Lê Lợi.

Trên vườn hoa trước nhà thờ, đối diện Bưu Điện là tượng đồng của Pigneau de Béhaine (còn gọi là Giám mục Bá Đa Lộc) dẫn hoàng tử Cảnh (con vua Gia Long) được đúc ở bên Pháp. Bên dưới tượng đài là bệ hình trụ bằng đá hoa cương màu đỏ. Năm 1945, tượng này tháo dỡ đưa về Pháp. Đến năm 1958, vị trí này được thay bằng bức tượng Đức Mẹ Hòa Bình bằng loại đá cẩm thạch trắng Carrara của Ý như hiện nay.

Dinh Xã Tây được xây dựng xong năm 1909. Có thể thấy trước tòa nhà ghi chữ Hotel de Ville, dịch sang tiếng Anh có nghĩa là City Hall, trong tiếng Việt gọi là Tòa Thị Chính. Thời VNCH thì dinh này được gọi là Tòa Đô Chánh, hiện nay là trụ sở UBND thành phố. Thiết kế của tòa nhà này được mô phỏng theo kiểu những lầu chuông ở miền Bắc nước Pháp.

Hình này là đầu đường Catinat (sau này là đường Tự Do, hiện nay là đường Đồng Khởi) những năm đầu 1920. Bên trái hình là Hotel Annam (Nam Việt khách lầu) của ông Huỳnh Huệ Ký ở số 1 Catinat. Sát vị trí này là 2 tiệm đổi tiền của người Ấn. Đến năm 1925, khách sạn này bị đập bỏ và xây thành khách sạn 5 sao Majestic. Khách sạn Majestic nhiều lần nâng cấp và còn tồn tại đến ngày nay.

Bên phải hình là quán cafe La Rotonde ở địa chỉ số 2 Catinat. Ngày nay vị trí này là Runam Bistro. Bên phải tấm hình là đường Quai de Belgique, nay là Tôn Đức Thắng, dọc bến Bạch Đằng.

Một góc ảnh rộng hơn của phía đầu đường Catinat, nhìn thấy được con đường Quai de Belgique với đường ray tàu hỏa chạy hơi nước tuyến Sài Gòn – Chợ Lớn.

Dọc sông Sài Gòn, phía xa là Cầu Quay Khánh Hội, người Pháp gọi là Le pont tournant, nghĩa là cầu quay. Tên gọi này dựa theo thiết kế độc đáo – khi cầu có thể quay khúc giữa vào giờ nhất định trong ngày để mở đường cho tàu thuyền qua lại dễ dàng. Con đường bên trái hình sau này được đặt tên là Bến Chương Dương, hiện nay mang tên Võ Văn Kiệt.

Chợ Bến Thành năm 1920. Ngôi chợ này được xây khoảng năm 1911 và giữ nguyên kiến trúc cơ bản cho đến ngày nay.

Toàn cảnh Chợ Bến Thành

Bến Bạch Đằng năm 1920, phía xa là Thương Cảng Sài Gòn (thành lập năm 1860). Vị trí này đến nay nằm ở đoạn đầu đường Hàm Nghi, Nguyễn Huệ.

Tòa nhà này nằm ở một vị trí đầy biến động. Ở vị trí này ngày nay là tòa nhà Sunwah ở số 115 Nguyễn Huệ.

Thời Pháp, tòa nhà này được gọi là “Tòa Tạp Tụng” trên đường Charner, người Pháp gọi là La Justice de Paix, đến năm 1955 đổi tên là “Tòa Hòa Giải” đường Nguyễn Huệ. Trước đó, vị trí này là 1 nhà thờ bằng gỗ, tiền thân của Nhà Thờ Đức Bà hiện nay.

Năm 1863, tại vị trí này, linh mục Lefebvre đã động thổ xây dựng nhà thờ bằng gỗ, hoàn thành vào năm 1865, ban đầu gọi là Nhà thờ Sài Gòn.

Đến năm 1876, do Nhà thờ Sài Gòn làm bằng gỗ tạp nên sớm hư hại, Thống đốc Nam kỳ là Guy Victor August Duperré quyết định tổ chức thi thiết kế mẫu Nhà thờ Sài Gòn mới đặt ở 1 vị trí khác. Cuối cùng kiến trúc sư J.Bourad đã được chọn, và đó cũng là hình dáng của Nhà thờ Đức Bà ngày nay.

Còn vị trị Nhà thờ cũ xây một tòa án vào năm 1880, có hình dáng như hình bên trên cho đến năm 1995 thì bị phá bỏ để xây dựng tòa nhà Sunwah như ngày nay, là nhà cao nhất Việt Nam thời điểm đó.

Sông Sài Gòn năm 1920. Bên tay phải là Thương Cảng Sài Gòn

Cầu Mống được xây dựng vào năm 1894 và được giữ nguyên hình dạng cho đến ngày nay.

Cầu do Công ty vận chuyển hàng hải Messageries Maritimes của Pháp bỏ vốn xây dựng, dài 128 mét, rộng 5,2 mét, lề bộ hành rộng 0,5 mét, xây bằng thép kiên cố. Cầu làm theo kiểu vòng mống cho nên dân gian gọi là cầu Mống.

Trong giai đoạn thi công Đại lộ Đông – Tây và Đường hầm sông Sài Gòn, cầu Mống được tháo dỡ hoàn toàn, sau khi công trình này hoàn tất thì cầu Mống đã được lắp ghép lại theo nguyên bản và gia cố thêm phần trụ móng kèm trang bị chiếu sáng mỹ thuật.

Chợ cá ở Chợ Lớn thập niên 1920. Vị trí này ngày nay là Bưu Điện Chợ Lớn

Cầu 3 cẳng ở Chợ Lớn. bắc qua một cái Vàm (Ngã ba kinh rạch) của kinh Hàng Bàng, do quan Khâm Sai người Pháp ra lệnh xây dựng. Cầu có tên tiếng Pháp là “Pont des 3 arches” (cầu có 3 nhịp vòng).

Nhà văn Trương Đạm Thủy viết về cầu như sau: “Ở vùng quận 6, Chợ Lớn cách đây mấy mươi năm có một cây cầu bằng sắt, hình dạng rất lạ, có ba chân. Vì cầu chẳng có cái tên chính thức nào như cầu Bông, cầu Kiệu, cầu Nhị Thiên Đường, cầu Tân Thuận… nên người dân lấy hình mã đặt tên, tức cầu Ba Cẳng.”

Cầu đã bị sập hồi năm 1990. Ngày nay, vị trí cầu này ở chỗ nối 3 đường Phan Văn Khỏe, Bến Bãi Sậy và Trịnh Hoài Đức.

Xưởng đóng tàu Ba Son đang hạ thủy chiếc tàu chở hàng mang tên Albert Sauraut dài 85m năm 1921. Đó là tên của 1 Toàn quyền Đông Dương nhiệm kỳ 1911-1913.

Tòa nhà này gắn liền với lịch sử Sài Gòn và đã tồn tại được tròn 130 năm với hình dáng được giữ nguyên như lúc mới khánh thành. Trong 130 năm qua, tòa nhà này trải qua nhiều biến động và đã có hàng trăm chủ nhân sử dụng vào nhiều mục đích khác nhau.

Tòa nhà được khởi công xây dựng vào năm 1885 và hoàn thành năm 1890 theo thiết kế của kiến trúc sư người Pháp Alfred Foulhoux với mục đích sử dụng làm Bảo tàng Thương mại để trưng bày sản phẩm Nam Kỳ. Tuy nhiên, ngay sau khi xây xong, tòa nhà lại được Phó Toàn quyền Đông Dương Henri Éloi Danel dùng làm tư dinh. Về sau, tòa nhà được sử dụng hẳn làm dinh Phó Toàn quyền Đông Dương hay còn gọi là dinh Phó soái (trước năm 1911). Sau ông Danel, các vị Phó Toàn quyền người Pháp thay nhau tiếp tục làm chủ Dinh. Từ năm 1892 đến năm 1911, đã có thêm tất cả 14 vị Phó Toàn Quyền khác (trong số 14 vị này có một số vị đảm nhiệm chức vụ này 2 hay 3 lần) cư ngụ trong Dinh.

Từ năm 1912, chính phủ Pháp bỏ chức vụ Phó Toàn Quyền Ðông Dương và thay bằng chức vụ Thống Ðốc Nam Kỳ. Từ 1912 cho đến ngày 9-3-1945 đã có thêm tất cả 16 vị Thống Ðốc Nam Kỳ sống và làm việc trong Dinh Gia Long. Năm 1945, dinh Thống đốc nhiều lần đổi chủ. Sau khi quân Nhật nắm quyền tại Đông Dương, vị thống đốc người Nhật là Yoshio Minoda sử dụng tòa nhà làm dinh thự.

Ngày 14 tháng 8, người Nhật giao lại dinh thự cho chính quyền Trần Trọng Kim của Đế quốc Việt Nam để làm dinh Khâm sai Đại thần Nam Bộ Nguyễn Văn Sâm.

Đến ngày 25 tháng 8, Việt Minh giành được chính quyền, dinh lại trở thành trụ sở Ủy ban Hành chánh Lâm thời Nam bộ, gọi tắt là Lâm ủy Nam Bộ, rồi của Ủy ban Nhân dân Nam Bộ.

Ngày 10 tháng 9, Trung tá B. W Roe (phái bộ quân sự Anh) chiếm dinh làm trụ sở Phái bộ Đồng minh, buộc Ủy ban Nhân dân Nam Bộ phải dời về dinh Đốc lý.

Đến ngày 5 tháng 10, dinh được tướng Leclerc dùng làm Phủ Cao ủy Cộng hòa Pháp tạm thời. Sau khi Cao ủy Cộng hòa Pháp tại Đông Dương là Đô đốc Georges Thierry d’Argenlieu chọn dinh Norodom làm Phủ Cao ủy, thì dinh lại trở thành nơi làm việc của tướng Leclerc, nhưng lần này với danh nghĩa chính thức là trụ sở của Ủy viên Cộng hòa Pháp tại Nam Việt Nam.

Sau khi tái chiếm Đông Dương, ngày 23 tháng 5 năm 1947, chính quyền Pháp đã bàn giao dinh cho Thủ tướng Lê Văn Hoạch để làm trụ sở chính phủ Nam kỳ quốc. Ngày 2 tháng 6 năm 1948, chính phủ lâm thời Quốc gia Việt Nam được thành lập và dinh được sau đó chuyển thành dinh Tổng trấn (sau đổi thành Thủ hiến) Nam phần dưới quyền sử dụng của Thủ hiến Trần Văn Hữu.

Sau Hiệp định Genève, tổng thống Ngô Đình Diệm về Sài Gòn nhận chức thủ tướng. Vì dinh Norodom còn do Cao ủy Pháp là tướng Paul Ely đang sử dụng, nên dinh trở thành dinh Thủ tướng tạm thời từ ngày 26 tháng 6 đến ngày 7 tháng 9 năm 1954. Dinh được Quốc trưởng Bảo Đại đặt cho tên mới là dinh Gia Long. Con đường La Grandìere trước mặt cũng được đổi tên thành đường Gia Long.

Từ năm 1955, tổng thống Ngô Đình Diệm dùng tòa nhà này làm dinh Quốc khách. Ngày 27 tháng 2 năm 1962, dinh Độc Lập bị hư hại, tổng thống Ngô Đình Diệm dời phủ tổng thống sang đây và ở đây cho đến ngày bị lật đổ vào tháng 11 năm 1963.

Trong thời gian 1964–1965, dinh được dùng làm dinh Quốc trưởng. Ngày 31 tháng 10 năm 1966, khi dinh Độc Lập mới được xây lại xong, tòa nhà này được dùng làm trụ sở của Tối cao Pháp viện Việt Nam Cộng hòa cho đến ngày 30 tháng 4 năm 1975.

Sau 1975, tòa nhà tạm thời không dùng cho mục đích cụ thể nào. Ngày 12 tháng 8 năm 1978, Ủy ban Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định sử dụng tòa nhà này làm Bảo tàng Cách mạng Thành phố Hồ Chí Minh, đến ngày 13 tháng 12 năm 1999 thì đổi tên thành Bảo tàng Thành phố Hồ Chí Minh như hiện nay.                                                   Đông Kha                                                                                                                              https://baomoi.com 



__._,_.___

Posted by: Vinh Tran <viditran@yahoo.com>